CHIẾN THẮNG MƯỜNG HÀM (19-2-1965) MỘT TRẬN “TAO NGỘ CHIẾN” GẶP VÀ ĐÁNH ĐỊCH TRÊN ĐƯỜNG HÀNH QUÂN

CHIẾN THẮNG MƯỜNG HÀM (19-2-1965)

MỘT TRẬN “TAO NGỘ CHIẾN”

GẶP VÀ ĐÁNH ĐỊCH TRÊN ĐƯỜNG HÀNH QUÂN

                                                 

          Khi viết những dòng kí ức này (2018) thấm thoát đã 54  năm – sau ngày Mỹ bắt đầu trận chiến tranh phá hoại Miền Bắc Việt Nam (5-8-1964). Chúng tôi, những học sinh cấp III (hệ 10 năm) tại Hà Nội, nhưng hầu hết đã tốt nghiệp lớp 10/10 xung phong nhập ngũ vào QĐNDVN ngày 15-10-1964. Tuổi đời anh em chúng tôi còn rất trẻ, người trẻ nhất 18 tuổi, số còn lại là mười chín, đôi mươi. Sau 3 tháng huấn luyện, chúng tôi được thực hành kỹ thuật chiến đấu bộ binh và kỹ thuật chiến đấu phòng không bằng pháo cao xạ 37 ly, sau đó được bổ sung vào Trung đoàn pháo cao xạ 37 ly 213 (sau gọi là Đoàn Trần Phú) Quân khu Ba, cuối năm 1965, e 213 về trong đội hình f 363 BTL PK-KQ.

          Tháng 1-1965, theo yêu cầu của Bạn; lãnh đạo Bộ và Quân khu III cử e213 sang chiến trường Lào tham gia ciến dịch “Giải phóng đường 6B” để nối thông căn cứ đầu não cách mạng Lào của vùng Bắc Lào (đóng tại Sầm Nưa) với vùng giải phóng Lào tại  Xiêng - Khoảng. Sau khi nghe phổ biến quán triệt nhiệm vụ, cán bộ, chiến sỹ toàn trung đoàn khẩn trương làm công tác chuẩn bị. Mọi người đều nhận thức: sự nghiệp cách mạng Việt Nam gắn liền với sự nghiệp cách mạng Lào. Trong quá trình thực hiện cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, quan hệ giữa hai nước có tình sâu, nghĩa nặng, chia sẻ ngọt bùi, “hạt gạo cắn đôi, cọng rau bẻ nửa”, “giúp bạn là giúp mình”. Bởi vậy, cán bộ, chiến sỹ đồng lòng nhất trí lên đường sang giúp bạn Lào trong vai trò quân tình nguyện. Chúng tôi nhận quân trang  Quân đội giải phóng nhân dân Lào (bộ đội Pathét Lào). Bộ phận đi làm nhiệm vụ quốc tế được biên chế gồm 3 đại đội pháo cao xạ 37 ly (Đại đội 1,2,3) và 1 đại đội súng máy cao xạ 14,5 ly 2 nòng đặt trên xe bọc thép AM (đại đội 48) cùng các bộ phận Tham mưu, hậu cần, thông tin, quân y,...đầy đủ. Cơ quan chỉ huy gồm các đồng chí:

      -Thiếu tá Đoàn Ngọc Cát, Trung đoàn trưởng

      -Thiếu tá Nguyễn Huy Riểu, Chính ủy

      -Đại úy Lê Đức Khuê, Tham mưu trưởng

      -Đại úy Nguyễn Kim Quy, Chủ nhiệm chính trị

      -Đại úy Đặng Đình Nhân, Chủ nhiệm Hậu cần

      Bộ phận còn lại của Trung đoàn (đại đội 4) đóng tại Hàm Rồng (Thanh Hóa) và cơ quan chỉ huy do đồng chí Lê Đình Chới, Phó chủ nhiệm chính trị phụ trách, khi có nhiệm vụ sẽ trực tiếp nhận lệnh của quân khu.

         Chúng tôi lên đường sang đất nước bạn vào hạ tuần tháng 1-1965 (Lúc này là dịp tết âm lịch Ất Tỵ của Việt Nam).

          Sau một thời gian cơ động, yểm trợ cho các đơn vị của bạn trong chiến dịch giải phóng đường 6B, Trung đoàn nhận được lệnh gấp rút trở về Hàm Rồng (Thanh Hóa) để bảo vệ nút giao thông huyết mạch chi viện cho chiến trường Miền Nam. Trên đường hành quân về nước, Trung đoàn gặp địch và đã xảy ra một cuộc chiến đấu vô cùng ác liệt nhưng mang lại một chiến thắng vẻ vang. Cán bộ, chiến sỹ toàn trung đoàn tham gia trận “tao ngộ chiến” hôm đó không bao giờ quên trận chiến này.

          Hôm đó, ngày 19-2-1965, đơn vị đã qua cuộc hành quân kéo dài 17 giờ (từ 5 giờ chiều hôm trước đến 10 giờ sáng hôm sau), đường xá nhiều đèo dốc quanh co, lầy lội. Tốc độ di chuyển rất chậm, có đoạn chỉ di chuyển được 2 đến 3 km một giờ, đoạn đường nào tốt cũng chỉ di chuyển được 10 đến 15km một giờ. Quá trình hành quân, các xe phải đi bằng đèn gầm, đường quanh co gấp khúc nhiều, nhiều đoạn người phải đi bộ trước quàng khăn trắng để dẫn đường cho lái xe. Các đoạn đường lầy lội, xe kéo pháo 37ly (GAZ.51) bị sa lầy, phải dùng dây chão buộc vào Ba- đờ- sốc phía trước, dùng người kéo trợ lực phía trước xe và đẩy bổ sung phía sau, rất vất vả mới qua được. 17 giờ hành quân, dự định khoảng 8 giờ nhưng mới đạt một nửa. Đoàn xe, pháo của Trung đoàn kéo dài khoảng 1km trên đường.

         10 giờ sáng 19-2-1965, Trung đoàn trưởng quyết định dừng nghỉ tạm ở dọc đường (khu vực gần bản Mường Hàm) để nấu cơm chơ bộ đội ăn trưa, dự kiến đến 13 giờ tiếp tục hành quân. Khu vực dừng nghỉ trên đường 6B, đoạn đường này hai bên là rừng, có một con suối cắt ngang đường. Các xe kéo pháo đỗ áp sát vào bìa rừng, xe bọc thép AM chở pháo 14,5 ly cũng đỗ vào vị trí áp sát bìa rừng ven suối. Các xe chỉ huy, kỹ thuật, hậu cận,...đỗ sâu phía trong bìa rừng. Các xe kéo pháo 37ly cắt rời khỏi pháo, đưa xe vào chỗ sâu hơn bìa rừng. Các khẩu pháo 37ly được hạ kích, đặt bắn trên đường, có 2 hòm đạn đặt cạnh pháo. Pháo 14,5 ly đặt trên xe bọc thép, đạn cũng ở trên xe. Các pháo thủ nghỉ ngơi tại chỗ sẵn sàng vào vị trí chiến đấu khi tác chiến…

         11 giờ 30 có hai chiếc F.100 bay qua. 12 giờ lại có 2 F.100 từ hướng 32 bay vượt qua Mường Hàm và vòng lại hướng cũ. Nghe trinh sát báo cáo và trực tiếp quan sát, chỉ huy Trung đoàn hội ý chớp nhoáng, quyết định báo động cấp 1, đưa bộ đội vào vị trí chiến đấu; lãnh đạo mỗi người xuống một nơi để chỉ huy trực tiếp. Sau 15 phút vắng tiếng máy bay, chiếc máy bay trinh sát trở lại. Xa xa có tiếng động cơ rầm rì của một đội máy bay đến đánh phá.

          12 giờ 15, trinh sát viên đại đội 48 báo cáo có 12 chiếc F.100 và F.105 bay đến. Phút chốc, tiếng máy bay đã gầm rú điên loạn xung quanh Mường Hàm, chúng bay rất thấp để quan sát mục tiêu, đến mức đứng dưới đất có thể nhìn thấy tên phi công đội mũ trắng ngồi trong khoang lái. Rồi chúng thay nhau bổ nhào phóng tên lửa và ném bom bi quả dứa xuống các trận địa ta; đồng thời đánh xuống hướng đại đội 48. Tiếng pháo của  c2 và c48 nổ vang khi máy bay địch vừa bổ nhào. Lúc ấy là 12 giờ 30. Như vậy bước đầu ta đã chủ động đánh địch.

          Máy bay địch phát hiện c2 bên bờ suối nên càng bổ nhào sâu, bắn rốc két, phóng bom bi liên tục. Chúng tôi cũng bắn trả mãnh liệt, tiếng bom bi nổ râm ran trên đồi cây, trên mặt đường, dưới suối…

          Phía sau c2 có một loạt đạn bắn khi không có máy bay, hỏi xuống, té ra Đại đội 3 bị một ngọn cây to che khuất nên đại đội trưởng Trần Nguyên Ngoạn đã cho dùng một loạt đạn, phạt ngang ngọn cây, làm quang xạ giới, mở rộng tầm quan sát. Địch tiếp tục đánh lần thứ 2 vào c2 và phóng bom bi xuống hướng Trung đoàn bộ. Lúc này toàn bộ hỏa lực của Trung đoàn có điều kiện phát huy hết sức mạnh.

          Mỗi loạt pháo chưa ngớt, tiếng hoan hô vang dậy cả khu rừng: Cháy rồi, cháy rồi cứ lặp lại mãi như là khu rừng đang thức dậy.

          Tiếng hoan hô, tiếng nổ của pháo, tiếng nổ của bom bi, rốc két làm cho ta liên tưởng đến mọi người không còn nghĩ gì đến nguy hiểm có thể đến. Tham mưu trưởng trên đường đi đốc chiến phía đại đội 48 về qua đại đội 2. Anh em Đại đội 2 hỏi: “Bắn rơi được bao nhiêu chiếc rồi thủ trưởng?”. Anh đã nghe Đại đội 48 báo cáo bắn rơi một chiếc, cộng với Đại đội 2 bắn rơi một chiếc nữa nên anh giơ 2 ngón tay, ý nói là 2 chiếc. Anh dừng lại nhắc các pháo thủ đội mũ sắt vào.

          Nhìn phía sát núi, đã có 2 pháo thủ được đặt nằm trong góc đường, trên mặt phủ chiếc khăn. Sau này mới biết, sau đợt tập kích đầu tiên của địch, bị bất ngờ trúng bom bi nổ nên 2 pháo thủ của khẩu đội 1 và khẩu đội 2 bị hi sinh cùng 1 lúc. Hai anh chưa chiến đấu tí nào, mặc dù đang sẵn sàng.

          Khi đi qua khẩu đội Trần Quang Mậu, lúc này tay phải của Mậu đã bị thương nhưng đã tự băng bó, không rời vị trí chiến đấu. Tham mưu trưởng nhắc nhở: “Cần chủ động bắn khi máy bay vừa chúc xuống, điểm xạ dài cho chính xác”. Nói xong anh tiếp tục đi về sở chỉ huy. Một loạt bom bi nổ trên núi, anh đứng sát về phía bên núi, rồi chạy tắt qua rãnh nước về sở chỉ huy. Lúc này, nhìn phía trên đầu (sở chỉ huy ở trong rừng) hỏa lực địch bắn rất mạnh. Tiếng bom bi, rốc két nổ lung tung trên cây, trên mặt đất, trên đường, dưới suối. Gặp đồng chí Riểu chính ủy, tham mưu trưởng định nói lại tình hình thì đồng chí Riểu vội rút chiếc khăn dù đưa ngay cho anh và bảo: “Bịt ngay, trên mặt”. Anh giơ tay lên mặt, một tia máu từ mặt bắn vào tay anh. Lúc ấy anh mới biết anh bị thương trên đường đi đốc chiến về. Tham mưu trưởng cầm khăn dù bịt ngay vào má, bàn tay thấm đầy máu, máu thấm đỏ cả chiếc khăn dù. Không thấy rõ mắt nên mọi người tưởng anh bị thương nặng lắm. Tuy nhiên, trong người vẫn tỉnh táo nên anh cảm thấy cõ lẽ vết thương không trầm trọng lắm. Tuy Chính ủy bắt anh bất động, ngồi vào hầm chỉ huy. Nhưng với những suy nghĩ và phán đoán của mình, anh đã trao đổi với Trung đoàn trưởng về cách xử lý theo tình hình phán đoán.

          Địch đánh lần 3 vào c2 và c48, vẫn có tiếng pháo bắn trả quyết liệt. Tuy nhiên lúc này mỗi khẩu đội của Đại đội 2 chỉ còn 2 đến 4 đồng chí. Nhiều pháo thủ bị thương tự băng bó lại để chiến đấu. Tại khẩu đội 3, khẩu đội trưởng Trần Quang Mậu mất máu quá nhiều, anh  gục xuống phải đưa ra ngoài cấp cứu.

        Địch đánh lần 4 vào trận địa, chúng bắt đầu đánh sâu xuống đại đội 3 và đại đội 1. Lúc này hỏa lực toàn trung đoàn càng phát huy đầy đủ và quyết liệt hơn. Tiếng động viên lẫn nhau, tiếng hoan hô vẫn vẳng lại, kèm theo tiếng nổ râm ran của rốc két và bom bi. Nhưng khí thế chiến đấu hừng hực vùng lên giành lấy chiến thắng của bộ đội ta không hề nao núng, ít nhất 3 máy bay Mỹ bị bắn rơi tại chỗ.

            Buộc phải triển khai đội hình đánh dọc trục đường, xem chừng địch đã không chịu được khả năng bị bắn rơi nhiều hơn, chúng chuyển hướng đánh rộng ra vùng ngoài. Không ngờ lại trúng một chiếc xe hậu cần chở xăng. Phát hiện thấy khói lửa bốc lên, địch tập trung đánh lan ra ngoài. Lúc này chúng dùng bom nổ nhiều hơn, đánh vào khu nghi ngờ ven suối.

          Thấy địch tập trung đánh vào khu hậu cần, trung đoàn hạ lệnh cho các đại đội được bắn cự ly xa hơn để yểm trợ cho khu hậu cần.

          Đợt 4 kết thúc thì cũng kết thúc toàn bộ đợt tập kích của địch vào trận địa của chúng ta. Lúc này là 14 giờ 30 xa xa vẳng lại tiếng T.28 và trực thăng. Có lẽ chúng cho máy bay đến tìm kiếm và cứu giặc lái đã nhảy dù khi máy bay rơi.

         Từ 15 giờ 30 tiếng máy bay đã dịu đi, chỉ nghe tiếng máy bay hoạt động từ xa, máy bay hoạt động đến 17 giờ thì hết. Như vậy, từ 14 giờ 30 địch đã hết ý định đánh vào khu vực chúng ta tạm dừng chân, chúng chỉ tập trung vào việc đi tìm cứu giặc lái.

          Cuộc chiến đấu chống tập kích bất ngờ trên đường hành quân của Trung đoàn 213 kéo dài 2 giờ từ 12 giờ 30 đến 14 giờ 30 mới kết thúc. Trung đoàn đã đánh trả  quyết liệt 4 đợt tập kích vào đội hình. Cuộc chiến đấu liên tục ác liệt, gián cách từng đợt chỉ tạm dừng 10 đến 15 phút. Số lượng máy bay địch sử dụng trong 4 đợt khoảng 48 chiếc F.105 và F.100. Trinh sát phán đoán những máy bay này xuất phát từ Cò - Rạt, U-ta-pao trên đất Thái Lan và tàu sân bay trên biển Đông.

           Các đại đội phải tập trung vào việc đánh trả máy bay địch, sửa chữa pháo đảm bảo bắn liên tục, khuân vác các hòm đạn từ ven núi về phía pháo để chiến đấu.

          Công việc cấp cứu thương binh chỉ được tiến hành trong phạm vi đại đội nên công tác cấp cứu lấy tự cấp cứu là chính. Từ 13 giờ việc tổ chức thu gom thương binh liệt sĩ của Trung đoàn mới tổ chức được.

          Trong chiến đấu nổi lên những gương anh dũng, những hành động anh hùng như: Khẩu đội trưởng Trần Quang Mậu của đại đội 2 bị thương vào tay phải đã tự mình băng bó vết thương, anh chuyển cờ sang tay trái tiếp tục chỉ huy bắn. Máu chảy nhiều trong 2 giờ chiến đấu liên tục, anh đã ngất đi và hi sinh trên mâm pháo. Liệt sỹ Mậu đã thực hiện khẩu hiệu “Chưa hi sinh chưa rời vị trí chiến đấu”.

          Pháo thủ số 3 Vũ Nam Chinh thuộc đại đội 3, bị thương máu chảy thấm đẫm áo trấn thủ, loang ra đỏ ngực nhưng vẫn bám vững tay quay lấy phần tử bắn, hướng nòng pháo chính xác vào mục tiêu. Vũ Nam Chinh noi gương Trần Quang Mậu, anh tiếp tục bị thương và hi sinh trên mâm pháo. Hai hình ảnh anh hùng đó đã nhanh chóng truyền lan tới toàn trung đoàn, khơi dậy lòng căm thù giặc và nâng cao khí thế chiến đấu của toàn trung đoàn.

          Xạ thủ số 4 Hoàng Ngọc Chương của đại đội 14,5 ly (đại đội 48), khi cả khẩu đội thương vong, chỉ còn một mình anh, anh vẫn kiêm nhiệm nhiều vị trí pháo thủ bị khuyết, tiếp tục chiến đấu cho đến lúc pháo hỏng nặng không sửa chữa được. Đại đội trưởng cho phép rời vị trí, anh xung phong đi cáng thương binh ra khỏi trận địa về vị trí cấp cứu. Sau đó anh lại xung phong đi cứu xe cháy và tiếp tục xin vào chiến đấu ở khẩu đội khác. Hoàng Ngọc Chương xứng đáng là lá cờ đầu và sau này được tuyên dương anh hùng lực lượng vũ trang.

          Quân khí viên Nguyễn Văn Tự như một con thoi, chỗ nào ngừng tiếng pháo anh liền có mặt, sửa chữa kịp thời.

      Tổng số hi sinh trong trận chiến đấu Mường Hàm là 34 liệt sĩ.

Trong đó:

            - Đại đội 2 bị đánh 4 lần, hi sinh 11 đồng chí, có khẩu đội phải thay thế 3 lần, có người bị thương 2 lần

           -Trung đoàn bộ gần đại đội 2 cũng bị đánh như vậy, hi sinh 9 đồng chí

         - Đại đội 48 bị đánh 4 lần, hy sinh 8 đồng chí

         - Đại đội 1 bị đánh 1 lần, hi sinh 2 đồng chí

          Số bị thương trong trận chiến đấu Mường Hàm là 105 đồng chí.                        Tổng số bị thương và hi sinh là 139 đồng chí.

           Những thử thách qua cuộc chiến đấu ác liệt càng kiểm chứng được chất lượng của bộ đội ta. Trong hoàn cảnh thương vong lớn như vậy nhưng không hề có biểu hiện chao đảo, rất nhiều gương chiến đấu anh dũng tuyệt vời.

          Sau khi trinh sát vào nắm vững tình hình qua dân cung cấp từ các địa điểm quan sát khác nhau, qua nguồn tin từ đoàn cố vấn quân sự Việt Nam bên cạnh Trung ương Bạn và tổng hợp từ các địa phương, Trung đoàn đã xác định bắn rơi và bắn bị thương 11 máy bay, trong đó có 3 chiếc bị bắn rơi tại chỗ trên lãnh thổ Lào.

          Nhận được điện báo của Trung đoàn, BTL Quân khu III đã điện ngay cho Trung đoàn, nội dung như sau: “ Quân khu đánh giá cao cuộc chiến đấu và chiến thắng của các đồng chí . Chúc các đồng chí nhanh chóng khắc phục các hậu quả sau cuộc chiến đấu, sẵn sàng làm nhiệm vụ mới”. Trung đoàn vinh dự nhận liên tiếp 3 bức điện của Đại tướng – Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp khen, nội dung tóm tắt như sau:

        Bức thứ nhất: Khen đánh thế là đúng

        Bức thứ hai: Khen Trung đoàn anh dũng tuyệt vời

         Bức thứ ba: Trung đoàn được chính thức mang tên Đoàn Trần Phú

           Ngày 27-2-1965 tại hang đá Na Cay cạnh sở chỉ huy Trung đoàn, Trung đoàn được hân hạnh đón tiếp đồng chí Cay- sỏn Phôm-vi- Hản, đi theo có đồng chí phiên dịch.

          Tất cả các đồng chí trong trung đoàn từ cấp đại đội trở lên đều có mặt đông đủ. Đoàn cán bộ xếp thành hai hàng ngang trước cửa hang, mang theo cờ QUYẾT THẮNG để đón đồng chí Tổng bí thư.

          Trong lời phát biểu với cán bộ trung đoàn, sau khi đánh giá tình hình chung, đồng chí nhấn mạnh ý nghĩa chiến thắng Mường Hàm là chiến thắng đầu tiên bắn rơi máy bay Mỹ tại Lào, được xem như ngọn cờ đầu phát động phong trào bắn rơi tại chỗ máy bay Mỹ ở Lào. Đồng chí đã gắn tặng huân chương ÍT-XA-LA hạng nhất của Lào vào quân kỳ của trung đoàn và trao cho trung đoàn một vật kỷ niệm của Lào là lá cờ tổ quốc Lào, trên cờ có ghi chữ Lào. Cuối cùng đồng chí kết luận : “ Trong suốt quá trình đấu tranh giành độc lập của nhân dân các bộ tộc Lào anh em, nơi nào có máu của nhân dân Lào bị đổ, ở đó liền có máu của nhân dân Việt Nam góp phần chia sẻ”.

          Câu nói chân tình ấy như nỗi lòng chia sẻ tình cảm trước sự tổn thất để đổi lấy chiến thắng mà trung đoàn vừa nhận được.

          Vì tình quốc tế cao cả, tình hữu nghị đặc biệt Việt - Lào sự hi sinh của anh em chúng ta rất xứng đáng.

          Chiến thắng Mường Hàm là chiến công đầu tiên của lực lượng phòng không Việt Nam thực hiện đánh thắng trận đầu, một chiến công nổi bật lúc bấy giờ cả ở trong nước cũng như ngoài nước. Với chiến công chói lọi đó, trung đoàn đã được Bộ quốc phòng tặng thưởng Huân chương quân công hạng hai, là huân chương cao nhất cho tập thể hồi đầu năm 1965.

        Để phù hợp với hoàn cảnh bí mật thời đó.Ngày 20-2-1965 (một ngày sau chiến thắng Mường Hàm), trên Báo Quân đội Nhân dân đăng tin “ Ngày 19-2-1965 tại Mường Hàm, quân và dân Lào đã bắn rơi và bắn bị thương 11 máy bay Mỹ”

          Hôm nay, sau 54 năm chiến thắng Mường Hàm, chi tiết về diễn biến trận đánh “tao ngộ chiến” vẫn hằn sâu trong kí ức của chúng tôi, không thể nào quên được. Chúng tôi không quên được các cán bộ chỉ huy, những người anh đáng kính trọng đã đồng hành trong chiến đấu, đồng cam cộng khổ cùng chiến sĩ vượt mọi khó khăn gian khổ ác liệt làm nên chiến thắng vĩ đại.

          Chúng tôi luôn luôn biết ơn những cán bộ và chiến sĩ đã hi sinh thân mình cho Tổ quốc, cho tình hữu nghị đặc biệt Việt – Lào, cho hai nước Lào, Việt hôm nay hoàn toàn tự do, độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, cho chúng tôi còn sống hạnh phúc đến ngày hôm nay.

 

                                              CCB Phạm Quang Hảo

                                                   e 213PPK(2 lần Anh hùng LLVTND)

          

     e213.jpg


                                                          Bộ đội trung đoàn 213 hôm nay



  • Bản quyền thuộc: Ban Liên lạc toàn quốc Quân tình nguyện & Chuyên gia Việt Nam tại Lào
    Địa chỉ: Số 79-81 Lý Nam Đế, phường Cửa Đông, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
    Địa chỉ ban biên tập: Số 1 An Dương, Quận Tây Hồ, Hà Nội
    Hộp thư điện tử: banbientapwqtn@gmail.com
    Trưởng ban Biên tập: Chuyên viên cao cấp Lê Mai
    Phó trưởng ban Biên tập: Thạc sỹ, Đại tá  Nguyễn Quốc Chinh
    Thư ký ban Biên tập: Đại tá Nguyễn Hữu Đức
  • Số người đang online: : 9
    Tổng số lượt truy cập: 202451
    Copyright @ 2016. Designed by DTC